Trẻ nhà trẻ khoảng 18–36 tháng hợp với trò ngồi tại chỗ, vỗ tay, nắm ngón tay theo đồng dao như chi chi chành chành, nu na nu nống; trẻ 3–4 tuổi chơi được trò vòng tròn và đuổi nhẹ như dung dăng dung dẻ, lộn cầu vồng; trẻ 4–5 tuổi chơi được trò có vai đổi nhau như mèo đuổi chuột, rồng rắn lên mây; trẻ 5–6 tuổi chơi được trò cần đếm, chiến thuật và đồng đội như ô ăn quan, kéo co, nhảy dây.
Đó là khung chung. Mỗi lớp, mỗi trẻ có nhịp riêng, và một trò quen có thể được làm đơn giản đi để em nhỏ chơi được, hoặc thêm luật để anh chị lớn thấy hấp dẫn. Bài này đi qua từng nhóm tuổi theo cách chia lớp thường gặp ở trường mầm non Việt Nam, nêu trò hợp tuổi, kỹ năng trẻ luyện, những chỗ cô cần để ý, và dấu hiệu cho biết một trò đang vượt quá sức của lớp.
Vì sao một trò hợp lớp này lại vỡ ở lớp khác
Một trò chơi dân gian đòi trẻ làm cùng lúc nhiều việc: nhớ lời đồng dao, làm động tác đúng nhịp, để ý đến bạn, nhớ mình đang ở vai nào và phản ứng khi tình huống đổi. Trẻ càng nhỏ thì càng ít việc làm được cùng một lúc. Trẻ hai tuổi có thể làm tốt một việc, như vỗ tay theo nhịp, nhưng thêm việc phải rụt tay đúng lúc thì đã khó. Trẻ năm tuổi có thể vừa đọc, vừa chạy, vừa tính xem nên đuổi bạn nào.
Thứ hai là cơ thể. Lò cò một chân, nhảy chụm chân qua dây, chạy rồi dừng gấp, đổi hướng giữa chừng là những kỹ năng đến dần theo tuổi. Các bảng mốc phát triển như của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) đặt việc nhảy lò cò bằng một chân vào khoảng bốn đến năm tuổi. Bắt trẻ ba tuổi chơi một trò cần lò cò liên tục không phải là dạy, mà là để trẻ thua vì cơ thể chưa sẵn sàng.
Thứ ba là cảm xúc. Bị bắt, bị loại, thua đội bạn là trải nghiệm trẻ nhỏ chịu đựng kém. Trò có loại người chơi hợp với trẻ lớn, còn trẻ nhỏ nên chơi trò không ai bị loại. Ba yếu tố này, đầu óc, cơ thể, cảm xúc, là lý do cô chọn trò theo tuổi chứ không theo sở thích của người lớn.
Nhà trẻ khoảng 18–36 tháng: trò ngồi, trò ngón tay, trò bắt chước
Ở tuổi nhà trẻ, trò chơi hay nhất là trò có một người lớn chơi cùng một hoặc vài trẻ, động tác đơn giản, lặp lại nhiều lần. Cô là bạn chơi chính, không phải trọng tài.
| Trò | Cách chơi gọn | Trẻ luyện gì | Cô để ý |
|---|---|---|---|
| Nu na nu nống | Trẻ ngồi duỗi chân thành hàng, cô vừa đọc đồng dao vừa chạm lần lượt từng chân; hết bài, chân nào được chạm cuối thì co lại | Nghe nhịp, chờ, nhận biết bộ phận cơ thể | Mỗi lượt ít trẻ để trẻ không phải chờ lâu |
| Chi chi chành chành | Cô xòe bàn tay, trẻ đặt ngón trỏ vào; hết câu cuối cô nắm tay lại, trẻ rút ngón ra | Phản xạ, chờ hiệu lệnh, vui vì bất ngờ | Trẻ nhỏ thường chưa rút kịp, cô nắm nhẹ và cười cùng trẻ |
| Kéo cưa lừa xẻ | Cô và trẻ ngồi đối diện nắm tay nhau, đẩy kéo qua lại theo đồng dao | Phối hợp hai tay, cảm nhận nhịp, gắn bó với người lớn | Kéo nhẹ, không giật cổ tay trẻ |
| Tập tầm vông | Cô giấu một vật nhỏ trong một tay, trẻ đoán tay nào có | Bắt đầu hiểu vật vẫn còn khi bị giấu, đoán và chờ | Vật giấu đủ lớn để không thể nuốt |
| Dung dăng dung dẻ | Cô và vài trẻ nắm tay đi thành hàng, đọc theo bước chân, đến câu cuối cùng ngồi xuống | Đi theo nhịp, dừng theo lời, đi cùng bạn | Đi chậm, mặt sân bằng phẳng |
Với trẻ nhà trẻ, đừng mong trẻ thuộc luật. Mục tiêu là trẻ vui với nhịp và với sự gần gũi của cô. Trẻ thích một trò thì sẽ đòi chơi lại hàng chục lần, và sự lặp lại đó chính là cách trẻ học.
Mẫu giáo bé khoảng 3–4 tuổi: vòng tròn, đi theo hàng, đuổi nhẹ
Trẻ ba tuổi bắt đầu chơi cùng bạn thay vì chỉ chơi cạnh bạn, nên trò vòng tròn và trò theo hàng trở nên hợp. Luật vẫn nên một bước, và chưa nên có người bị loại.
| Trò | Cách chơi gọn | Trẻ luyện gì | Cô để ý |
|---|---|---|---|
| Lộn cầu vồng | Hai trẻ nắm hai tay nhau, đọc đồng dao rồi cùng lộn người chui qua vòng tay mà không buông tay | Phối hợp với một bạn, định hướng cơ thể | Chọn hai trẻ cao gần bằng nhau, buông tay ngay khi một bạn kêu đau |
| Dung dăng dung dẻ theo nhóm | Cả nhóm nắm tay đi vòng quanh sân, đến câu “ngồi xệp xuống đây” thì cùng ngồi | Giữ nhịp chung, dừng theo lời | Không kéo bạn chạy nhanh |
| Bỏ khăn bản nhẹ | Cả lớp ngồi vòng tròn, một bạn cầm khăn đi quanh và thả sau lưng một bạn; bạn đó đứng dậy đi theo, không cần đuổi bắt | Chờ lượt, chú ý phía sau, được chọn và chọn bạn | Để ý trẻ chưa bao giờ được thả khăn |
| Oẳn tù tì | Hai trẻ đọc câu quen rồi cùng ra búa, kéo hoặc bao | Phản xạ, bắt đầu hiểu luật thắng thua đơn giản | Trẻ ba tuổi hay ra chậm hơn bạn, chưa cần tính thắng thua |
Ở tuổi này, trẻ rất thích được làm “người cầm khăn” hay “người dẫn đầu”. Cô xoay vòng các vai này có chủ ý để trẻ nào cũng có lượt, kể cả trẻ chưa bao giờ giơ tay.
Mẫu giáo nhỡ khoảng 4–5 tuổi: vai đổi nhau, đuổi bắt có luật
Trẻ bốn tuổi nhớ được luật hai ba bước, chạy và đổi hướng khá vững, và bắt đầu thích cảm giác hồi hộp khi bị đuổi. Đây là tuổi các trò đuổi bắt kinh điển bắt đầu chơi được trọn vẹn.
| Trò | Cách chơi gọn | Trẻ luyện gì | Cô để ý |
|---|---|---|---|
| Mèo đuổi chuột | Cả lớp nắm tay thành vòng, một bạn làm chuột, một bạn làm mèo; chuột luồn qua các khe tay, mèo đuổi theo đúng đường chuột đã đi | Nhớ luật đi theo đường chuột, chạy đổi hướng, hợp tác giữ vòng | Vòng đủ rộng, nhắc không giật tay bạn khi mèo luồn qua |
| Rồng rắn lên mây | Một hàng trẻ ôm eo nhau làm rồng rắn, một bạn làm thầy thuốc; sau lời hỏi đáp, thầy thuốc tìm cách bắt khúc đuôi | Giữ hàng, phối hợp nhóm, đọc lời hỏi đáp | Hàng ngắn khoảng sáu tám bạn để đầu và đuôi không bị quật mạnh |
| Lò cò | Nhảy lò cò bằng một chân theo ô kẻ trên sân, nhặt hòn sỏi hay chiếc dép nhỏ | Thăng bằng, sức chân, đếm ô | Cho đổi chân, cho chạm chân kia khi mất thăng bằng |
| Trốn tìm trong vùng nhỏ | Một bạn che mắt đếm, các bạn trốn trong vùng cô khoanh trước | Đếm, chờ, nhìn từ góc nhìn của người khác | Không trốn sau cửa, trong tủ hay ra khỏi vùng cô nhìn thấy |
Trẻ bốn tuổi cũng bắt đầu cãi nhau về luật, và đó là dấu hiệu tốt: trẻ đã thấy luật là thứ chung. Cô để trẻ tự bàn một chút trước khi phân xử.
Mẫu giáo lớn khoảng 5–6 tuổi: đếm, chiến thuật, đồng đội
Trẻ năm sáu tuổi chơi được trò có nhiều luật, có tính điểm và có đội. Trẻ cũng chịu thua tốt hơn, dù vẫn cần người lớn đỡ khi thua đậm.
| Trò | Cách chơi gọn | Trẻ luyện gì | Cô để ý |
|---|---|---|---|
| Ô ăn quan | Hai trẻ rải quân theo ô, ăn quân theo luật, cuối ván đếm xem ai nhiều hơn | Đếm, so sánh, tính trước một hai bước | Bắt đầu bằng bản rút gọn, quân chơi không quá nhỏ |
| Kéo co | Hai đội nắm dây, kéo cho vạch giữa qua phía mình | Sức, phối hợp đồng đội, chịu thua theo nhóm | Dây mềm, không quấn dây vào tay, nền cỏ hoặc thảm |
| Nhảy dây | Hai bạn quay dây dài, một bạn nhảy theo nhịp đếm | Canh nhịp, phối hợp mắt và chân, đếm | Quay chậm, dây không quá nặng |
| Đánh chuyền | Tung một quả bóng nhỏ, nhặt que trên mặt đất rồi bắt bóng, vừa làm vừa đọc | Vận động tinh, phối hợp tay mắt, đọc theo nhịp | Que tròn đầu, ngồi nơi có bóng mát |
| Bịt mắt bắt dê | Một bạn bịt mắt, các bạn khác vỗ tay gọi trong vòng tròn nhỏ | Nghe định hướng, can đảm, tin bạn | Vòng nhỏ, nền phẳng, bạn bịt mắt có thể tháo khăn bất cứ lúc nào |
Ở tuổi này cô có thể bắt đầu cho trẻ tự chia đội và tự chọn người làm trọng tài, rồi quan sát. Cách trẻ chia đội nói rất nhiều về các mối quan hệ trong lớp, và cô dùng điều đó để biết bạn nào hay bị bỏ lại.
Dấu hiệu một trò chơi đang quá sức với lớp
Một trò chọn sai tuổi hiếm khi lộ ra ngay. Thường thì trò chơi tan dần qua vài ván, và người lớn dễ nghĩ là “hôm nay các con không ngoan”. Những dấu hiệu dưới đây cho thấy vấn đề nằm ở trò chơi.
- Nhiều trẻ cùng sai một chỗ, ván nào cũng như vậy, dù cô đã chơi mẫu.
- Trẻ đứng chờ quá lâu, bắt đầu đùa nghịch hay bỏ ra khỏi vòng.
- Luôn chỉ vài trẻ lớn hơn hoặc nhanh hơn thắng, các bạn còn lại không bao giờ chạm được vai chính.
- Có trẻ khóc ở hầu hết các ván, không phải một bạn mà nhiều bạn.
- Va chạm, ngã xảy ra nhiều hơn thường lệ, nhất là ở đầu và đuôi của hàng.
- Trẻ không đọc được lời đồng dao nữa mà chỉ hét, tức là phần nhịp của trò đã mất.
Khi thấy hai ba dấu hiệu cùng lúc, cô dừng lại và làm trò nhỏ đi, chứ không cố cho trẻ chơi đúng bản đầy đủ. Một trò vừa sức chơi vui hai mươi phút có ích hơn một trò khó chơi gượng mười phút.
Chỉnh trò cho vừa sức mà vẫn giữ hồn trò
Bỏ bớt việc phải làm cùng lúc. Cho cả lớp đọc đồng dao còn cô làm động tác, hoặc ngược lại, rồi mới ghép lại. Trẻ học từng phần trước khi phải làm hai việc một lúc.
Làm hàng ngắn, vòng nhỏ. Rồng rắn tám bạn dễ giữ hơn hai mươi bạn. Chia lớp thành nhiều nhóm nhỏ chơi cùng lúc thì trẻ ít chờ hơn và cô dễ nhìn hơn.
Đổi loại người chơi thành đổi vai. Thay vì bạn bị bắt phải ra ngoài, bạn đó trở thành người bắt ở ván sau. Trẻ vẫn có cảm giác thắng thua nhưng không ai phải đứng ngoài.
Chậm nhịp lại. Đọc đồng dao chậm hơn, đếm chậm hơn khi quay dây. Nhịp chậm cho trẻ thời gian phản ứng, và trẻ thấy mình làm được.
Giữ lời đồng dao và cấu trúc chính. Đơn giản hoá không có nghĩa là đổi trò thành một trò khác. Giữ lời, giữ cách bắt đầu và kết thúc, để khi trẻ lớn lên và gặp bản đầy đủ, trẻ nhận ra đó vẫn là trò của mình.
Câu hỏi thường gặp
Con 2 tuổi đã chơi được rồng rắn lên mây chưa?
Thường là chưa trọn vẹn. Trẻ hai tuổi khó giữ tay trên eo bạn khi hàng di chuyển và dễ bị kéo ngã khi đuôi bị đuổi. Trẻ có thể đi theo hàng chậm cùng cô và đọc lời, phần đuổi bắt nên để tới khi trẻ khoảng bốn tuổi, chạy và dừng đã vững hơn.
Lớp ghép nhiều độ tuổi thì chọn trò chơi dân gian thế nào?
Chọn trò mà mỗi tuổi có một vai vừa sức. Trong mèo đuổi chuột, trẻ nhỏ đứng trong vòng nắm tay, trẻ lớn làm mèo và chuột. Trong nhảy dây, trẻ lớn quay dây, trẻ nhỏ đếm hoặc nhảy khi dây đứng yên. Như vậy cả lớp cùng chơi một trò mà không ai quá sức.
Trò chơi có người bị loại có hợp với trẻ mầm non không?
Với trẻ dưới bốn tuổi thì nên tránh, vì bị loại rồi đứng ngoài khiến trẻ nhỏ buồn và mất hứng rất nhanh. Với trẻ năm sáu tuổi, có thể chơi trò có loại, miễn là ván ngắn và người bị loại sớm có việc khác để làm, như làm trọng tài hay vỗ tay giữ nhịp.
Con nhà mình nhỏ con hơn bạn, có thiệt khi chơi trò vận động không?
Có thể thiệt trong các trò cần sức như kéo co, nhưng không thiệt trong trò cần khéo, cần nghe hay cần tính. Cô để ý chia đội cân sức và xoay vòng trò chơi, để mỗi trẻ có lúc được thấy mình giỏi. Ba mẹ có thể hỏi cô con thích và giỏi trò nào nhất ở lớp.
Có cần dạy con thuộc đồng dao trước khi chơi trò không?
Không cần. Trẻ thường thuộc lời qua chính việc chơi đi chơi lại. Ba mẹ đọc cùng con ở nhà thì con chơi ở lớp tự tin hơn, nhưng việc bắt con thuộc trước dễ biến trò chơi thành bài học thuộc lòng và làm trẻ mất hứng.
Bao nhiêu tuổi thì trẻ chơi được ô ăn quan?
Phần lớn trẻ khoảng năm đến sáu tuổi chơi được bản rút gọn, khi đã đếm được tới mười và hiểu luật rải quân theo một chiều. Bản đầy đủ với các luật ăn liên tiếp và vay quân thường hợp với trẻ lớn hơn, cô đưa dần vào khi trẻ đã quen.