Làm quen chữ cái tiếng Việt ở mẫu giáo là cho trẻ nhận mặt chữ, phát âm đúng và nghe ra âm đó trong lời nói, thông qua trò chơi bằng hạt, dây, đất nặn, cát và chính tên của trẻ. Đây chưa phải là học đọc hay tập viết: tay trẻ năm tuổi chưa đủ vững để cầm bút đúng lâu, và cách viết đúng nét, đúng thứ tự là việc của lớp một.
Nhiều phụ huynh lo khi thấy con học mẫu giáo lớn mà chưa viết được tên mình, trong khi con nhà hàng xóm đã tô kín cả cuốn vở chữ. Nỗi lo đó dễ hiểu, nhưng có một lý do giáo dục rõ ràng khiến lớp mầm non làm quen chữ bằng tay chơi chứ không bằng bút. Bài này nói về những gì trẻ học được khi làm quen chữ, những chữ tiếng Việt trẻ hay lẫn, các trò chơi trong lớp, và việc ba mẹ nên, không nên làm ở nhà.
Làm quen chữ cái khác học đọc, học viết thế nào
Làm quen chữ cái gồm ba việc nhỏ: nhìn một hình và biết đó là chữ gì, phát âm chữ đó cho đúng, và nghe ra chữ đó trong một tiếng nói. Ví dụ với chữ b: trẻ nhận ra hình chữ b giữa các hình khác, nói được "bờ", và nghe được rằng "bà", "bé", "bò" đều bắt đầu bằng âm đó. Ở lớp mầm non, trẻ thường được dạy đọc theo âm như "bờ", "cờ", "dờ" thay cho tên chữ "bê", "xê", "dê", vì âm mới là thứ trẻ nghe được trong lời nói.
Học đọc là ghép âm thành vần, thành tiếng, thành câu; học viết là tạo ra chữ bằng bút theo đúng nét và đúng thứ tự. Hai việc này cần những kỹ năng mà nhiều trẻ năm tuổi chưa có đủ, và chúng được dạy có hệ thống ở lớp một. Ngành giáo dục cũng đã nhiều lần nhắc các trường mầm non không dạy trước chương trình lớp một.
Vì vậy, một trẻ rời mẫu giáo mà nhận được phần lớn mặt chữ, nghe ra âm đầu của tiếng, và thích chơi với chữ là đã đi đúng đường, dù trẻ chưa viết được chữ nào cho tròn.
29 chữ cái và những cặp chữ trẻ hay lẫn
Bảng chữ cái tiếng Việt có 29 chữ: a, ă, â, b, c, d, đ, e, ê, g, h, i, k, l, m, n, o, ô, ơ, p, q, r, s, t, u, ư, v, x, y. So với nhiều thứ tiếng khác, tiếng Việt có những nhóm chữ chỉ khác nhau một cái mũ hay một cái râu, nên trẻ hay lẫn.
| Nhóm | Chữ | Vì sao trẻ hay lẫn | Trò chơi giúp phân biệt |
|---|---|---|---|
| Chữ có mũ, có móc | o – ô – ơ | Cùng một hình tròn, chỉ khác dấu phụ | Đội "mũ" bằng giấy cho chữ o, gắn "râu" bằng que tăm |
| Chữ có mũ, có trăng | a – ă – â | Cùng thân chữ a, khác phần trên đầu | Đặt hình mặt trăng nhỏ hay cái nón nhỏ lên chữ a bằng hạt |
| Chữ có râu | u – ư | Chỉ khác cái móc nhỏ bên phải | Vẽ chữ u lên cát, thêm "râu" bằng nhánh lá |
| Chữ có mũ | e – ê | Khác nhau một dấu nhỏ | Đọc to hai âm thật khác nhau, kèm hai động tác tay khác nhau |
| Chữ có gạch ngang | d – đ | Khác nhau một nét gạch, âm lại rất khác | Xếp chữ d bằng dây, rồi đặt thêm que ngang để thành đ |
| Chữ xoay chiều | b – d – p – q | Cùng một vòng tròn và một nét thẳng, chỉ đổi hướng | Nặn chữ bằng đất, xoay qua lại và đọc to từng hướng |
Lẫn các chữ này là chuyện bình thường, kể cả ở trẻ đầu lớp một. Lẫn chữ xoay chiều như b với d nói riêng là hiện tượng rất phổ biến ở trẻ nhỏ khi mới học chữ, ở nhiều thứ tiếng, và thường tự giảm dần khi trẻ đọc nhiều hơn. Dấu thanh sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng không nằm trong 29 chữ cái; ở mầm non, trẻ làm quen với thanh điệu chủ yếu qua nghe và nói.
Nghe âm trước, nhìn chữ sau
Trước khi nhìn chữ, trẻ cần nghe ra được các phần của lời nói. Các nhà nghiên cứu gọi đây là ý thức âm vị: biết rằng một câu gồm nhiều tiếng, một tiếng có âm đầu và phần vần, hai tiếng có thể vần với nhau. Nhiều nghiên cứu, phần lớn làm với trẻ nói tiếng Anh, cho thấy trẻ có ý thức âm vị tốt trước tuổi đi học thường học đọc thuận hơn sau này.
Tiếng Việt có một thuận lợi: mỗi tiếng là một âm tiết tách rời, nói ra là nghe rõ ranh giới. Trẻ vỗ tay theo từng tiếng trong "con mèo mà trèo cây cau" rất dễ. Từ đó, cô cho trẻ chơi tiếp: tên bạn nào có hai tiếng, tên bạn nào có ba tiếng; tiếng nào bắt đầu giống "bà"; tiếng nào vần với "mèo". Đồng dao và thơ ở lớp chính là bài luyện nghe âm tự nhiên nhất.
Khi trẻ đã nghe ra âm đầu, việc gắn âm với hình chữ trở nên có ý nghĩa: chữ b là "cái hình của âm bờ ở đầu chữ bà". Nếu đi ngược lại, cho trẻ học thuộc hình 29 chữ mà không nghe ra âm trong lời nói, trẻ có thể đọc vanh vách bảng chữ cái mà không dùng được vào việc gì.
Trò chơi chữ cái trong lớp
Ở lớp mẫu giáo, chữ cái được đưa vào qua tay và cơ thể nhiều hơn qua giấy bút. Vài trò chơi hay gặp:
- Chữ đầu tên mình: mỗi trẻ tìm chữ cái đầu tiên trong tên của mình, rồi tìm bạn nào có tên cùng chữ đầu. Tên là chữ trẻ quan tâm nhất.
- Xếp chữ bằng hột hạt, que, dây len: trẻ xếp hình chữ lên khay, vừa xếp vừa đọc âm. Tay nhớ hình chữ trước khi mắt nhớ.
- Nặn chữ bằng đất: lăn đất thành sợi rồi uốn thành chữ. Vừa làm quen chữ vừa luyện cơ tay.
- Viết chữ trên cát hoặc bột: dùng ngón tay vẽ chữ lên khay cát, xoá đi rồi vẽ lại. Không có nét sai bị giữ lại, trẻ thoải mái thử.
- Đi theo đường chữ: cô dán băng dính thành một chữ cái lớn trên sàn, trẻ bước theo đường chữ.
- Túi bí mật: cô bỏ các chữ bằng gỗ vào túi vải, trẻ sờ và đoán chữ gì trước khi lấy ra.
- Đi tìm tiếng có âm: cô nói một âm, trẻ đi tìm trong lớp đồ vật có tên bắt đầu bằng âm đó: bóng, bàn, bút với âm bờ.
Mỗi trò chỉ kéo dài vài phút và đi kèm lời nói. Mục tiêu là trẻ thấy chữ cái là thứ để chơi và có liên quan tới tiếng mình nói, chứ không phải bài phải học cho xong.
Vì sao lớp mầm non chưa cho trẻ tập viết
Cơ tay chưa đủ vững. Cầm bút đúng và kéo một nét chữ đều cần các cơ nhỏ ở bàn tay và ngón tay đã phát triển khá. Ở tuổi năm, sáu, phần lớn trẻ vẫn đang trong quá trình này. Bắt viết sớm thì trẻ cầm bút bằng cả nắm tay, ghì mạnh, mỏi nhanh.
Thói quen cầm bút sai khó sửa. Một trẻ đã quen cầm bút sai trong một năm thì đến lớp một, cô phải gỡ thói quen đó trước khi dạy viết. Nhiều giáo viên tiểu học nói việc sửa còn khó hơn dạy mới.
Viết đúng nét, đúng thứ tự là bài của lớp một. Chữ viết tay tiếng Việt có quy định về nét và thứ tự viết. Trẻ tự tô theo vở chữ ở nhà thường viết ngược nét, và phải học lại.
Áp lực làm trẻ sợ chữ. Ngồi tô chữ lâu, bị nhắc "sai rồi, tô lại" làm nhiều trẻ chán chữ trước khi kịp thích nó. Trong khi đó, trẻ thích chữ thì vào lớp một học rất nhanh.
Có cách chuẩn bị tốt hơn. Thay vì tô chữ, lớp mầm non cho trẻ xâu hạt, nặn đất, cắt dán, cài cúc, gắp đồ bằng kẹp, vẽ tự do. Đó là những việc làm khoẻ bàn tay để khi đến lúc viết, trẻ có sẵn đôi tay sẵn sàng.
Dấu hiệu con đang tiến bộ với chữ, dù chưa viết được
Thay vì đếm số chữ con tô được, ba mẹ có thể nhìn những dấu hiệu sau. Chúng cho thấy con đang đi đúng hướng, nhiều khi rõ hơn cả một trang vở chữ đẹp:
- Con tự chỉ vào một chữ trên bao bì, trên xe buýt, trong sách và hỏi "chữ gì đây".
- Con nhận ra chữ đầu tên mình ở những chỗ khác, và reo lên "chữ của con".
- Con chơi trò nói vần: "mèo – kèo – trèo", hay cố tình nói sai cho vui.
- Con nói được tiếng nào bắt đầu giống nhau: "bà với bé giống nhau ở đầu".
- Con vẽ những nét giống chữ trong tranh, ký "tên" bằng vài vòng tròn và nói đó là tên con.
- Con giả vờ đọc truyện, lật trang từ trước ra sau, kể theo tranh với giọng như người đọc sách.
Những hành vi này các nhà nghiên cứu gọi chung là năng lực đọc viết sơ khởi, tức những hiểu biết đầu tiên của trẻ rằng chữ mang nghĩa và có quy ước. Trẻ có nhiều dấu hiệu như vậy thường bước vào lớp một với tâm thế sẵn sàng, dù chưa từng cầm bút tô chữ. Ba mẹ thấy con làm những việc đó thì đáp lại vui vẻ, trả lời câu hỏi "chữ gì đây" của con thật kiên nhẫn: đó là lúc con tự học.
Ở nhà: nên và không nên
Ba mẹ muốn giúp con làm quen chữ ở nhà có thể làm theo vài gợi ý sau, đi cùng hướng với lớp học:
| Nên | Không nên |
|---|---|
| Đọc truyện cho con mỗi ngày, thỉnh thoảng chỉ vào một chữ to trên trang | Mua vở tô chữ và đặt mục tiêu con tô hết một trang mỗi tối |
| Chơi trò tìm chữ đầu tên của các thành viên trong nhà | Bắt con đọc thuộc lòng bảng chữ cái theo thứ tự |
| Cho con nặn đất, xâu hạt, cắt giấy, vẽ tự do | Chê nét vẽ, nét chữ của con là xấu, là sai |
| Chơi tìm đồ vật bắt đầu bằng một âm trong lúc dọn nhà, đi chợ | So con với bạn đã biết đọc, biết viết |
| Hỏi cô lớp đang làm quen chữ nào để chơi cùng ở nhà | Cho con học thêm lớp luyện chữ trước tuổi vào lớp một |
Nếu đến cuối năm mẫu giáo lớn con vẫn chưa nhận được nhiều mặt chữ, ba mẹ không cần hoảng. Trẻ phát triển không đều, và lớp một được thiết kế để dạy chữ từ đầu. Điều cần để ý hơn là con có nghe hiểu tốt, nói được câu đủ ý, và có thích nghe đọc truyện hay không.
Câu hỏi thường gặp
Con năm tuổi đã đọc vanh vách bảng chữ cái, như vậy là giỏi chưa?
Đọc thuộc theo thứ tự là một kỹ năng nhớ, chưa phải là nhận mặt chữ. Ba mẹ thử chỉ một chữ ở giữa bảng hoặc trên một trang sách và hỏi con đó là chữ gì, hoặc hỏi tiếng "bà" bắt đầu bằng âm gì. Con làm được những việc đó mới là đã làm quen chữ thật sự.
Con hay viết chữ b thành chữ d, có phải là dấu hiệu khó học không?
Lẫn các chữ xoay chiều như b, d, p, q rất phổ biến ở trẻ mới học chữ và thường giảm dần theo thời gian. Ở tuổi mầm non, đây chưa phải dấu hiệu đáng lo. Nếu lên lớp hai, lớp ba vẫn lẫn nhiều kèm đọc rất chậm, ba mẹ nên trao đổi với giáo viên.
Có nên dạy con dấu thanh sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng ở tuổi mầm non?
Ở mầm non, trẻ học thanh điệu chủ yếu qua nghe và nói đúng. Ba mẹ nói rõ dấu, đọc thơ đúng nhịp là đủ. Tên các dấu và cách đánh dấu khi viết thuộc chương trình lớp một, không cần dạy trước.
Trẻ học chữ cái tiếng Anh cùng lúc có bị rối không?
Một số trẻ lẫn trong thời gian đầu vì hai thứ tiếng dùng chung nhiều hình chữ nhưng đọc khác nhau. Điều giúp trẻ nhất là hai thứ tiếng được dạy trong hai bối cảnh tách bạch, cô Việt dạy chữ Việt, đọc theo âm Việt. Phần tiếng Anh, ba mẹ nên hỏi giáo viên tiếng Anh của lớp.
Con không thích chơi trò chữ cái, có nên ép không?
Không nên ép. Thử tìm trò gắn với điều con thích: con thích xe thì tìm chữ đầu của các loại xe, con thích nấu ăn thì xếp chữ bằng hạt đậu trong bếp. Đọc truyện mỗi ngày vẫn là cách nuôi niềm thích chữ chắc nhất.
Ở lớp có dán chữ cái quanh tường không, có giúp trẻ nhớ không?
Nhiều lớp có dán chữ cái kèm tranh. Chữ trên tường giúp được khi cô và trẻ thường xuyên dùng tới nó trong trò chơi, chẳng hạn chạy tới chạm vào chữ đầu tên mình. Dán lên mà không ai nhắc tới thì trẻ nhanh chóng không còn để ý.