Trẻ mầm non hay khóc, chống đối hoặc chạy lung tung vào lúc chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác, vì chuyển việc đòi trẻ dừng điều đang thích, chuyển sự chú ý và chờ đợi, ba kỹ năng não trẻ còn non. Cô giúp trẻ bằng cách báo trước, dùng một tín hiệu quen thuộc, cho trẻ xem lịch ngày bằng tranh, giao cho trẻ một việc cụ thể trong lúc chuyển, và rút ngắn thời gian chờ.
Một ngày bán trú có rất nhiều lần chuyển: từ đón trẻ sang vòng tròn sáng, từ hoạt động chính ra sân, từ sân vào rửa tay, từ bàn ăn sang giường ngủ, từ ngủ dậy sang ăn xế. Mỗi lần là một cánh cửa nhỏ mà trẻ phải bước qua. Lớp nào xử lý tốt những cánh cửa ấy thì cả ngày êm; lớp nào để chúng lộn xộn thì phần lớn lời nhắc, nước mắt và va chạm dồn vào đây. Bài này nói về cơ chế phía sau và những cách cô hay dùng.
Vì sao lúc chuyển hoạt động là lúc khó nhất trong ngày
Thử nhìn từ phía trẻ. Một bé ba tuổi đang say sưa đổ cát vào xô thì nghe cô gọi vào lớp. Để làm theo, bé phải dừng một việc đang rất thích, chấp nhận rằng việc ấy kết thúc, chuyển sự chú ý sang lời cô, rồi đi một đoạn đến chỗ mới mà chưa biết ở đó có gì vui. Mỗi bước là một đòi hỏi với kỹ năng kiềm chế và linh hoạt chuyển hướng, chính những kỹ năng mà ở tuổi này mới đang hình thành.
Thêm vào đó, nhiều lần chuyển rơi vào lúc cơ thể trẻ đang ở mức khó: trước bữa trưa trẻ đói, trước giấc ngủ trẻ mệt, vừa ngủ dậy trẻ còn ngái ngủ. Lúc chuyển cũng thường là lúc lớp ồn hơn, cô bận hơn và trẻ phải chờ nhiều hơn. Thời gian chờ không có việc gì làm là thời gian trẻ dễ đẩy nhau, chạy nhảy hay tìm việc của riêng mình.
Hiểu như vậy giúp cô bớt coi trẻ không chịu dọn đồ là trẻ cứng đầu. Phần lớn trẻ không phản đối cô, trẻ phản đối việc phải dừng. Câu hỏi của cô vì thế chuyển từ “làm sao bắt trẻ nghe” sang “làm sao khiến việc dừng dễ hơn”.
Năm công cụ giúp trẻ chuyển việc dễ hơn
Báo trước bằng thời gian trẻ hình dung được. Trẻ nhỏ chưa hiểu “năm phút” là bao lâu. Cô nói “chơi thêm một lần xếp nữa là mình dọn” hay “khi cát trong đồng hồ chảy hết”. Một lời báo trước rồi một lời báo gần cho trẻ thời gian chuẩn bị tinh thần để kết thúc.
Tín hiệu quen thuộc, luôn giống nhau. Một bài hát dọn dẹp, tiếng lắc chuông nhỏ, ánh đèn tắt bật nhẹ hay một tràng vỗ tay theo nhịp. Dùng đều đặn trong nhiều tuần, tín hiệu thành thói quen: nghe nhạc là tay tự cất đồ, không cần lời nhắc của cô.
Lịch ngày bằng tranh. Một dải ảnh các hoạt động theo thứ tự, đặt ở tầm mắt trẻ. Trước khi chuyển, cô hoặc một bạn trực nhật lật hay chỉ sang ảnh tiếp theo. Trẻ thấy việc kế tiếp, và thấy cả rằng hoạt động thích sẽ còn quay lại.
Một việc cụ thể để làm trong lúc chuyển. Thay vì “xếp hàng chờ”, trẻ được giao bê giỏ bóng, cầm cửa, đếm bạn hay đi theo dấu chân trên sàn. Có việc trong tay, trẻ ít có thời gian rảnh để chen lấn.
Giảm số lần cả lớp phải chờ cùng lúc. Cho từng nhóm nhỏ đi rửa tay trong khi nhóm khác hát một bài, hay để trẻ xong việc trước chuyển sang góc đọc thay vì đứng chờ. Mỗi phút chờ bớt đi là một phút ít va chạm hơn.
Các lần chuyển trong ngày và chỗ hay vấp
Không phải lần chuyển nào cũng khó như nhau. Bảng dưới gom những lần chuyển thường gặp ở lớp bán trú, lý do trẻ hay vấp và vài cách cô xử lý. Giờ giấc cụ thể mỗi lớp mỗi khác nên bảng chỉ nêu thứ tự.
| Lần chuyển | Vì sao trẻ hay vấp | Cách cô thường làm |
|---|---|---|
| Ba mẹ đưa đến, chào tạm biệt | Rời người thân, chưa vào nhịp lớp | Có một việc quen để làm ngay: cất ba lô, tưới cây, chọn ảnh điểm danh |
| Chơi tự do sang vòng tròn sáng | Đang chơi dở, phải ngồi yên | Bài hát gọi vòng tròn, cô bắt đầu bằng một trò động tay |
| Ngoài sân vào lớp | Đang vận động mạnh, phải chậm lại | Đi theo trò “tàu hoả chạy chậm”, vài nhịp thở trước cửa |
| Rửa tay trước bữa trưa | Đói, chen nhau ở bồn | Chia nhóm nhỏ, nhóm chờ hát hoặc nghe kể chuyện ngắn |
| Ăn xong sang giờ ngủ | Mệt, dễ cáu | Hạ đèn, nhạc nhẹ, mỗi trẻ có một việc nhỏ như cất khay |
| Ngủ dậy sang ăn xế | Còn ngái ngủ, chưa tỉnh hẳn | Cho trẻ dậy từ từ, không gọi to, có chỗ ngồi tỉnh dần |
Nhìn bảng, có thể thấy một điểm chung: lần chuyển nào cũng dễ hơn khi trẻ có một việc nhỏ để làm và cơ thể được dẫn từ từ từ trạng thái này sang trạng thái kia, chứ không bị cắt ngang. Giờ đón và chào tạm biệt buổi sáng còn gắn với chuyện trẻ làm quen đi học, nên ở đây chỉ nói phần cô tổ chức trong lớp.
Khi một trẻ vẫn không chịu dừng: trình tự cô thường đi
Dù chuẩn bị tốt, vẫn có lúc một bé ôm chặt đồ chơi, nằm lăn ra sàn hay chạy trốn khi cả lớp đã chuyển. Cô thường đi theo trình tự dưới đây, bình tĩnh và không vội, vì một lời quát lúc này chỉ làm trẻ bám chặt hơn.
- Lại gần, ngồi xuống ngang tầm mắt trẻ thay vì gọi từ xa.
- Gọi tên điều trẻ đang thấy: “Con đang xây dở, con chưa muốn dừng.”
- Đưa ra hai lựa chọn đều chấp nhận được: “Con muốn cất tháp lên kệ hay để cô giữ lại cho con xây tiếp chiều nay?”
- Cho trẻ một vai trong việc chuyển: “Con cầm giúp cô cái giỏ này ra sân được không?”
- Nếu trẻ vẫn chưa đi được, cô giúp trẻ bằng cơ thể một cách nhẹ nhàng: nắm tay đi cùng, hoặc bế trẻ nhỏ, kèm một câu bình thản “Cô giúp con đi nhé.”
- Khi trẻ đã ổn ở chỗ mới, cô nói một câu ghi nhận ngắn, không nhắc lại chuyện vừa rồi như một lỗi.
Trình tự này giữ được giới hạn, vì cả lớp vẫn chuyển và trẻ vẫn phải đi, nhưng cho trẻ cảm giác có một chút quyền chọn trong giới hạn đó. Trẻ được chọn cách đi thì ít phải đấu tranh với việc đi.
Vì sao lịch ngày đều đặn làm lớp bớt căng
Trẻ nhỏ cảm thấy an toàn khi đoán được điều sắp xảy ra. Một ngày có nhịp đều, các hoạt động đi theo cùng một thứ tự mỗi ngày, giúp trẻ dần không cần được báo nữa: ăn xong là đến giờ đánh răng, đánh răng xong là đi ngủ. Khi trẻ tự biết, việc chuyển không còn là mệnh lệnh của cô mà là nếp của lớp.
Nhịp đều không có nghĩa là cứng nhắc theo từng phút. Một buổi sáng mưa, giờ ra sân được thay bằng vận động trong phòng; một ngày lễ, lịch có thêm hoạt động đặc biệt. Điều quan trọng là cô báo cho trẻ biết về sự thay đổi, tốt nhất bằng cách đổi ảnh trên lịch tranh và nói trước với trẻ trong vòng tròn sáng. Thay đổi không báo trước là lúc ngay cả những trẻ dễ chịu nhất cũng phản ứng.
Một lớp có lịch ngày rõ cũng giúp cô. Khi mọi người lớn trong lớp, cô chính, cô phụ, cô bảo mẫu, cùng dùng một tín hiệu và một trình tự, trẻ không phải đoán xem hôm nay ai đứng lớp thì luật ra sao. Sự nhất quán giữa người lớn là phần không nhìn thấy nhưng quyết định nhiều nhất.
Những lần chuyển lớn: sau kỳ nghỉ, đổi cô, đổi phòng
Ngoài những lần chuyển nhỏ trong ngày, năm học còn có những lần chuyển lớn mà trẻ cũng phải thích nghi: quay lại lớp sau Tết hay sau kỳ nghỉ dài, lên lớp mới với phòng mới, có cô mới thay cô cũ, hoặc lớp được ghép với lớp khác trong vài tuần hè. Những lần ấy làm xáo trộn chính cái nếp đã giúp trẻ chuyển việc dễ dàng, nên trong một hai tuần đầu, trẻ đã quen nề nếp vẫn có thể khóc lại lúc dọn đồ, chống đối lúc đi ngủ hay bám cô nhiều hơn.
Cô giúp trẻ qua những lần này bằng cách giữ lại càng nhiều thứ quen thuộc càng tốt: cùng bài hát dọn dẹp, cùng tín hiệu tập hợp, cùng thứ tự trên lịch tranh. Nếu đổi phòng, cô có thể đưa trẻ sang thăm phòng mới trước, mang theo vài món của lớp cũ như thùng đồ chơi trẻ thích. Nếu đổi cô, cô cũ và cô mới nên có vài ngày cùng đứng lớp để cô mới học được các câu, các tín hiệu trẻ đã quen.
Điều đáng tránh là coi những phản ứng ấy như trẻ hư đi và siết chặt quy tắc. Đây là lúc trẻ cần nhiều sự ấm áp hơn, nhiều lời báo trước hơn, và một chút kiên nhẫn để nếp cũ quay lại. Với phần lớn trẻ, khi nhịp ngày ổn định trở lại, việc chuyển hoạt động cũng dần êm như trước.
Ba mẹ quan sát được gì về giờ chuyển hoạt động
Khi có dịp ở lại lớp một lúc, ví dụ buổi sáng đưa con đến hay dịp nhà trường mời phụ huynh dự giờ, ba mẹ có thể để ý một lần chuyển. Lớp có nếp tốt thường có một tín hiệu mà phần lớn trẻ phản ứng ngay, có ít lời nhắc lặp lại, và cô không phải lên giọng để cả lớp dừng. Thời gian trẻ đứng chờ không có việc làm thường ngắn.
Ba mẹ cũng có thể hỏi cô vài câu: lớp dùng tín hiệu gì để báo dọn đồ, con có hay khó khăn ở lần chuyển nào, cô thường giúp con thế nào lúc đó. Nhiều trẻ có một lần chuyển riêng làm khó mình, chẳng hạn vào lớp sau giờ sân hay thức dậy sau giấc trưa. Biết điều đó, ba mẹ hiểu vì sao con có ngày về kể mình đã khóc, và cũng biết mình không nên coi một lần khóc ấy là chuyện lớn.
Lời của cô về những lần chuyển cũng cho ba mẹ biết nhiều về cách lớp nhìn trẻ. Một câu như “con khó dừng khi đang chơi say, cô báo trước hai lần thì con làm được” khác hẳn câu “con hay bướng”. Câu đầu tả hành vi và cách giúp; câu sau dán nhãn lên trẻ.
Câu hỏi thường gặp
Bài hát dọn dẹp có thật sự giúp trẻ dọn đồ không?
Có, khi bài hát được dùng đều đặn, luôn cùng một bài, vào đúng lúc dọn. Sau vài tuần, bài hát thành tín hiệu: trẻ nghe là tay bắt đầu cất đồ. Bài hát cũng cho việc dọn một độ dài trẻ cảm nhận được, hết bài là xong, và biến việc dọn thành việc cả lớp cùng làm.
Con ở nhà rất khó dừng xem ti vi, ở lớp có khác không?
Thường ở lớp trẻ chuyển việc dễ hơn ở nhà, vì có nhịp đều, có bạn cùng làm và có tín hiệu quen. Trẻ nhìn các bạn cất đồ thì dễ làm theo. Ba mẹ có thể hỏi cô tín hiệu lớp đang dùng để thử ở nhà, ví dụ báo trước hai lần trước khi tắt.
Có nên thưởng kẹo cho trẻ dọn đồ nhanh nhất không?
Không nên biến việc dọn thành cuộc đua có phần thưởng. Trẻ chậm sẽ thấy mình thua, trẻ nhanh có thể vội vã quăng đồ cho kịp. Việc dọn là một phần của cuộc sống chung trong lớp; một lời ghi nhận cụ thể và cảm giác cả lớp cùng xong là đủ để trẻ muốn làm.
Trẻ nhà trẻ dưới ba tuổi có học được việc chuyển hoạt động không?
Có, nhưng cần nhiều lặp lại và nhiều trợ giúp bằng tay hơn. Ở tuổi này cô thường đi cùng từng trẻ trong lúc chuyển, dùng tín hiệu thật đơn giản như một câu hát ngắn, và chấp nhận rằng trẻ sẽ cần được dẫn đi nhiều tháng. Trẻ dưới ba tuổi học nếp bằng cơ thể trước khi hiểu bằng lời.
Nếu con luôn là bạn cuối cùng ra khỏi góc chơi thì có đáng lo?
Thường không. Có trẻ tập trung sâu vào việc đang làm, và đó là một phẩm chất tốt. Cô có thể báo trước cho con sớm hơn các bạn, hoặc giao cho con một việc để kết thúc như cất món đồ cuối. Chỉ nên tìm hiểu thêm khi trẻ khó chuyển việc ở mọi nơi kèm phản ứng rất mạnh và kéo dài.
Lịch ngày bằng tranh có cần thay đổi thường xuyên không?
Không cần thay nhiều, vì sức mạnh của nó nằm ở sự quen thuộc. Cô chỉ đổi khi ngày đó có hoạt động khác thường, và nên đổi trước mặt trẻ, giải thích ngắn. Ảnh trên lịch nên là ảnh thật của chính lớp ở từng hoạt động để trẻ nhận ra ngay.